Phát hiện suy thận thế nào?

Phạm Thanh Đoàn (phamdoan@gmail.com)

Dấu hiệu mắc bệnh thận là thay đổi khi đi tiểu: Những thay đổi như tiểu nhiều vào đêm, nước tiểu có bọt, lượng nước tiểu nhiều hơn/ít hơn bình thường và nước tiểu có màu nhợt/màu tối, nước tiểu có máu, cảm thấy căng tức hay đi tiểu khó khăn...; Phù:

Thận bị hỏng không loại bỏ được chất lỏng dư thừa nữa, do vậy chất lỏng tích tụ trong cơ thể khiến bạn bị phù ở chân, cổ chân, bàn chân, mặt...; Mệt mỏi: Những quả thận khỏe mạnh tạo ra một hormon gọi là erythropoietin, hormon này thông báo cho cơ thể tạo ra các tế bào hồng cầu mang ôxy. Khi thận bị hỏng, chúng tạo ra ít erythropoietin hơn, cơ thể có ít các tế bào hồng cầu vận chuyển ôxy hơn, nên các cơ và đầu óc của bạn mệt đi nhanh chóng.Tình trạng này được gọi là thiếu máu do suy thận; Ngứa: Thận có chức năng loại bỏ các chất cặn bã ra khỏi máu.

Khi thận bị suy, sự tích tụ của các chất thải này trong máu có thể gây ngứa ở da; Hơi thở có mùi amoniac: Sự tích tụ của các chất thải trong máu (được gọi là chứng urê huyết) có thể khiến thức ăn có vị khác đi và khiến hơi thở có mùi. Bạn cũng nhận thấy rằng bạn không thích ăn thịt nữa; Thở nông: Đó là do chất lỏng dư thừa trong cơ thể tích tụ trong hai lá phổi kèm theo tình trạng thiếu máu (sự thiếu hụt các tế bào hồng cầu vận chuyển ôxy) sinh ra chứng thở nông; Ớn lạnh: Thiếu máu có thể khiến bạn cảm thấy lúc nào cũng lạnh... Trường hợp của bác nên định kỳ khám, xét nghiệm máu và dùng thuốc huyết áp theo chỉ định.

BS. Vũ Ngọc Anh

Biến chứng đặc biệt nguy hiểm của viêm tụy cấp

Viêm tụy cấp là một bệnh lý cấp tính của tuyến tụy, có thể thay đổi từ viêm tụy phù nề cho đến viêm tụy xuất huyết và hoại tử. Đây là một trong các bệnh lý cấp cứu tụy hay gặp. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể dẫn đến các biến chứng, thậm chí nguy hiểm dẫn đến tử vong.

Những dấu hiệu điển hình

Dấu hiệu hay gặp nhất là đau đột ngột vùng trên rốn, đôi khi có thể từ từ, mới đầu nhẹ, sau đó tăng dần rồi đau lan dần ra sau lưng, tính chất đau rất thay đổi. Có thể đau liên tục vừa phải và kéo dài, có khi đau dữ dội như dao đâm, đau vật vã làm cho bệnh nhân nghẹt thở. Khi bệnh nhân ngồi gập bụng cảm thấy đỡ đau nhưng khi nằm ngửa thì đau tăng lên. Vị trí đau thường ít thay đổi, nếu có lệch sang phải hay bên trái thì là dấu hiệu tổn thương ở đầu hay đuôi tụy. Với biểu hiện đau này gần giống với đau bụng cấp trong bệnh lý dạ dày tá tràng, nhất là xuất hiện sau khi uống rượu bia nhiều sẽ làm cho chúng ta chủ quan không đi khám ngay và nhiều trường hợp đã để lại những hậu quả nghiêm trọng.

Sỏi mật là một trong những nguyên nhân gây viêm tụy cấp.

Sỏi mật là một trong những nguyên nhân gây viêm tụy cấp.

70 - 80% các trường hợp có nôn.

Toàn thân có hội chứng nhiễm trùng với các biểu hiện như sốt, đau đầu, môi khô, lưỡi bẩn; nhất là trong trường hợp do giun và sỏi có thể xảy ra ngày đầu hoặc ngày thứ hai; còn trong viêm tụy cấp do rượu, nhiễm trùng thường đến muộn sau 5-7 ngày do bội nhiễm.

Ngoài ra, nếu trong trường hợp có viêm tụy cấp hoại tử thì có thêm các biểu hiện khác như mạch nhanh nhỏ, huyết áp hạ, đầu chi lạnh, tím tái...

Nguyên nhân nào?

Có nhiều yếu tố nguyên nhân trong bệnh sinh viêm tụy cấp, nhưng cơ chế chủ yếu của viêm tụy cấp đến nay vẫn chưa được hoàn toàn biết rõ. Trong đó có một vài lý do hay được nhắc đến. Đầu tiên là do các yếu tố tắc nghẽn đường dẫn mật tụy như do sỏi; giun; u; do chèn ép từ ngoài đã làm viêm tụy cấp hoặc do kích thích tiết quá nhiều dịch tụy như ăn quá nhiều, nhất là sau một thời gian nhịn đói, sự tắc nghẽn này thường kèm theo sự trào ngược dịch ruột và dịch tụy đã được hoạt hóa khi đến tá tràng có thể kèm theo dịch mật là những yếu tố gây hoạt hóa men tụy.

Tiếp đến là do rượu, rượu có thể gây viêm tụy cấp nhưng cũng có thể gây viêm tụy mạn.

Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác như sau chấn thương vùng bụng; sau nội soi mật tụy ngược dòng; nhiễm khuẩn sau phẫu thuật, nhất là sau phẫu thuật bụng; nhiễm trùng sau quai bị, viêm gan virut; do dùng thuốc (thuốc lợi tiểu thiazid, furosemid, thuốc ngừa thai...).

Biến chứng cực kỳ nguy hiểm của viêm tụy cấp

Nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời, viêm tụy cấp có thể diễn biến thành hoại tử tụy, thường hoại tử tụy ít khi khu trú mà lan rộng do hiện tượng tự tiêu của tuyến tụy dưới tác động của các men tiêu protein và lipid được hoạt tác ngay trong lòng tuyến tụy. Tiếp theo đó sẽ dẫn đến chảy máu tụy, thậm chí gây hoại tử tụy các tạng xung quanh như hoại tử mạch mạc treo gây chảy máu trong ổ bụng, gây thủng tá tràng, đại tràng... muộn hơn sẽ biến chứng thành áp-xe tụy. Bệnh nhân tử vong do chảy máu, sốc nhiễm khuẩn. Tỷ lệ tử vong do viêm tụy cấp có thể tới trên 15% và tử vong trong viêm tụy cấp do rượu cao gấp 3 lần so với tử vong trong viêm tụy cấp do sỏi hoặc giun.

Chữa trị và phòng ngừa như thế nào?

Phần lớn viêm tụy cấp là thể phù (85-90%), điều trị chủ yếu bằng phương pháp nội khoa và bệnh sẽ thoái triển sau 5-7 ngày. Các biện pháp thông thường là: hút dịch vị, nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch khi các triệu chứng đau giảm nhiều mới bắt đầu cho ăn dần, bắt đầu là nước đường, tiếp đến là hồ đường rồi cháo để giảm sự tiết dịch tụy; bù nước và điện giải để đảm bảo thăng bằng kiềm toan, tùy theo điều kiện và nguyên nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định cho dùng các loại thuốc giảm tiết, kháng sinh cho phù hợp.

Chỉ tiến hành mổ cấp cứu khẩn cấp khi chẩn đoán không chắc chắn hoặc khi chẩn đoán viêm tụy cấp hoại tử nặng điều trị hồi sức tích cực không kết quả, viêm tụy cấp kết hợp có bệnh lý đường mật.

Sau 2 - 3 tuần, nếu có các biến chứng như chảy máu, rò tiêu hóa, áp-xe... cũng phải mổ sớm để giải quyết. Tùy theo thương tổn mà có thể chọn đường mổ, cách xử trí phẫu thuật phù hợp.

Lời khuyên của thầy thuốcỞ bệnh nhân có tiền sử sỏi hoặc giun chui đường mật hoặc sau bữa ăn thịnh soạn có sử dụng nhiều rượu mà xuất hiện đau bụng cấp, cần đến ngay cơ sở y tế nơi gần nhất để khám và điều trị hợp lý, kịp thời tránh các biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra. Cách tốt nhất với mỗi chúng ta cần giữ gìn vệ sinh an toàn trong ăn uống, định kỳ 6 tháng đến 1 năm tẩy giun 1 lần để tránh mắc ký sinh trùng đường ruột; ăn uống hợp lý, tránh việc sử dụng bia rượu quá nhiều để đảm bảo cho cơ thể luôn luôn được khỏe mạnh.

BS. Nguyễn Đằng

Nhận biết u xơ tử cung

U xơ tử cung (UXTC) là những khối u nhỏ lành tính phát triển và thành hình từ lớp cơ của tử cung. UXTC có thể có một hay nhiều u, đường kính thay đổi từ vài milimét đến vài chục milimét. Đây là một loại u lành tính và thường không phát triển thành ung thư. Tuy nhiên, nếu phát hiện muộn, UXTC có thể gây ra những biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe.

Biểu hiện bệnh lý của UXTC

UXTC có thể nằm ở phần thân tử cung (96%), eo tử cung (1%), cổ tử cung (3%), cũng có thể nằm trong bề dày lớp cơ tử cung, nằm dưới lớp niêm mạc của buồng tử cung, có thể có cuống, làm cho khối u xơ giống như một dạng polyp thòng vào trong lòng tử cung. Khi khối u xơ nhỏ, người phụ nữ hoàn toàn không có bất cứ triệu chứng bệnh lý nào. Tuy nhiên, 60% trong các trường hợp UXTC có triệu chứng chính là rối loạn kinh nguyệt; rong kinh kéo dài; chảy máu bất thường. Sự phát triển của khối u chịu ảnh hưởng của nội tiết tố estrogen, khi lượng estrogen tăng cao sẽ làm cho khối u phát triển to lên. Tùy theo độ lớn và vị trí của khối u gây áp lực lên thành tử cung, chèn ép lên các cơ quan của cơ thể gây ra những biểu hiện như: đau tức vùng hạ vị hoặc hố chậu, đau nhiều hơn trước hoặc trong khi hành kinh; đau tức vùng bụng dưới trong và sau khi giao hợp; bụng to ra trông như người đang mang thai khi khối u to, chèn lên dạ dày; Rối loạn tiểu tiện (bí tiểu, tiểu tiện nhiều lần, tiểu rắt, tiểu són) khi khối u chèn vào bàng quang, chèn vào niệu quản làm ứ đọng nước tiểu và gây táo bón khi khối u chứng chèn vào trực tràng…

U xơ tử cung có thể gây ra nhiều biến chứng.

Nguyên nhân gây UXTC

Vì sao phụ nữ bị UXTC hiện nay vẫn chưa rõ, song nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nguyên nhân phát sinh UXTC là do nồng độ estrogen trong cơ thể tiết ra nhiều và hoạt động mạnh dẫn đến tăng sinh tổ chức cơ và niêm mạc tử cung. Chính vì vậy, khối u xơ có thể nhỏ lại và teo mất đi khi người phụ nữ đã mãn kinh. Một số tài liệu thì cho rằng UXTC liên quan đến sức khỏe sinh sản: sẩy thai nhiều lần, hiếm muộn, vô sinh, phụ nữ sinh đẻ ít có nguy cơ gây UXTC. Tuy vậy, bệnh vẫn gặp ở những phụ nữ đẻ nhiều con. Một số trường hợp đang mang thai nếu bị UXTC có thể dẫn đến một số nguy cơ như ngôi thai bất thường, sinh non, nhau thai bám ở vị trí bất thường (nhau tiền đạo, nhau cài răng lược…). Có thể thấy UXTC ảnh hưởng đến thiên chức làm mẹ, sức khỏe và chất lượng sống của phụ nữ. UXTC thường được phát hiện khi đi khám bệnh định kỳ. Bạn cũng có thể tự kiểm tra và phát hiện UXTC khi nằm ở tư thế ngửa, sờ thấy khối u nổi lên dưới lớp da bụng, nếu day nhẹ có cảm giác đau để phòng biến chứng và được điều trị nếu biết tầm soát sớm.

Phương pháp điều trị

Tùy thuộc vào vị trí, số lượng, kích thước và mức độ phát triển của khối u. Trường hợp UXTC nhỏ, tiến triển chậm, không biểu lộ triệu chứng, chưa gây biến chứng, phụ nữ trong độ tuổi mãn kinh… Có khoảng 1/3 số trường hợp UXTC không triệu chứng ở quanh tuổi 40 sẽ đi vào thời kỳ mãn kinh và từ đó UXTC sẽ không phát triển nữa. Do vậy, bác sĩ có thể không can thiệp bằng phẫu thuật, bệnh nhân được theo dõi, tái khám, điều trị nội khoa. Dùng thuốc để kích thích làm teo khối u hoặc sử dụng kỹ thuật xoắn để néo chân u xơ rồi đưa u xơ ra ngoài từ cổ tử cung.

Nếu điều trị nội khoa không hiệu quả, khối u trong tử cung phát triển to, chèn ép các cơ quan lân cận, gây ra những biến chứng nghiêm trọng, cần điều trị ngoại khoa bằng phương pháp phẫu thuật. Bóc tách nhân xơ bảo tồn tử cung hoặc có khi cắt một phần hay toàn phần tử cung để loại bỏ hoàn toàn UXTC hoặc điều trị bằng phương pháp gây tắc động mạch nuôi khối u.

ThS. Lê Thị Hương

Bệnh Rubella

Bệnh Rubella còn có tên là bệnh Rubêôn, do virut RNA thuộc nhóm Togavirus gây ra, còn gọi là bệnh sởi Đức. Rubella có đặc điểm là hay gây thành dịch và phát ban giống sởi. Mặc dù là bệnh lành tính, nhưng lại nguy hiểm cho phụ nữ có thai nhất là vào 3 tháng đầu vì gây ra các dị tật bẩm sinh cho thai nhi.

Virut Rubella được phân lập từ năm 1962, bệnh lây qua đường hô hấp, hay xảy ra dịch vào mùa xuân và đầu mùa hạ. Bệnh ít gặp ở trẻ dưới 5 tuổi nhưng lại hay gặp ở lứa tuổi thanh thiếu niên.

Những biểu hiện lâm sàng của bệnh

 Đục nhân mắt - một biến chứng của Rubella khi mang thai.
Sau khi virut vào cơ thể độ 2-3 tuần lễ, bệnh nhân hoàn toàn bình thường. Tiếp theo có 3 triệu chứng chính là sốt, phát ban và nổi hạch.

Sốt: Đau đầu, mệt mỏi thường xuất hiện 1- 4 ngày, sau khi phát ban thì sốt giảm. Sốt nhẹ 38,5oC.

Nổi hạch: Ở vùng xương chẩm, khuỷu tay, bẹn, cổ, sờ hơi đau. Hạch thường nổi trước phát ban, tồn tại vài ngày sau khi ban bay hết.

Phát ban: là dấu hiệu làm người ta để ý tới. Ban mọc lúc đầu ở trên đầu, mặt, rồi mọc khắp toàn thân, thường không tuần tự như sởi. Nốt ban có hình tròn hay bầu dục, đường kính chừng khoảng 1-2mm, các nốt có thể hợp thành từng mảng hay đứng riêng rẽ. Trong vòng 24 giờ ban mọc khắp người, chỉ sau 2-3 ngày là bay hết. Cần phân biệt với ban của sởi: Ban sởi sờ mịn, mọc thứ tự từ trên đầu, mặt xuống, sau khi bay để lại các vảy như phấn rôm, trên da có các vằn màu sẫm.

Đau khớp hoặc đau khắp mình mẩy, hay gặp ở phụ nữ. Các khớp ngón tay, cổ tay, gối, cổ chân đau trong khi phát ban, sau đó không để lại di chứng.

Các thể lâm sàng

Rubella bẩm sinh: Virut từ máu mẹ qua nhau thai. Trẻ sơ sinh khi đẻ ra đã có ban, hoặc trong vòng 48 giờ sau sinh. Bệnh nhi có gan to, lách to, vàng da.

Thể xuất huyết do giảm tiểu cầu: Chiếm tỷ lệ 1/3.000 ca. Xuất hiện xuất huyết vào 1-2 tuần sau khi phát ban. Có thể chảy máu cam, xuất huyết tiêu hóa, trẻ sơ sinh có thể chảy máu rốn.

Phụ nữ có thai bị Rubella

 Virus RNA gây bệnh Rubella.

Thường người mẹ không có triệu chứng, điều đáng quan tâm nhất là những dị tật của thai nhi trong bụng mẹ.

Trong 3 tháng đầu: 70%-100% trẻ đẻ ra bị Rubella bẩm sinh và 25% trẻ bị dị tật bẩm sinh ở các cơ quan tim, mắt, não.

Sau 3 tháng: Nếu mẹ có thai được 13-16 tuần, thì trẻ bị Rubella bẩm sinh với tỷ lệ 17%. Khi thai được 17- 20 tuần, thì tỷ lệ 5%. Và khi thai hơn 20 tuần, tỷ lệ đó bằng 0%.

Các biến chứng dị tật của thai nhi: Khi bà mẹ mang thai 3 tháng đầu bị bệnh Rubella thì dễ bị sảy thai hoặc thai chết lưu trong tử cung; nếu đẻ được thì thai thiếu cân, chậm lớn, chậm mọc răng và kèm theo các dị tật bẩm sinh như đục nhân mắt (một hoặc hai bên); đục giác mạc; tim tiên thiên lỗ thông vách tim, còn ống động mạch, hẹp eo động mạch phổi; trẻ còn có thể bị câm, điếc, chậm phát triển trí tuệ.

Điều trị: Cần điều trị triệu chứng như giảm đau, hạ nhiệt. Giữ ấm, tránh gió, kiêng nước trong thời gian phát ban, đề phòng bội nhiễm viêm đường hô hấp. Ăn uống đủ chất dinh dưỡng để nâng cao sức đề kháng. Tăng cường ăn hoa quả như cam, chanh và các vitamin.

Phòng bệnh: Hai biện pháp chính của phòng bệnh là cách ly và tiêm phòng bằng vaccin. Tiêm phòng vaccin Rubella giảm độc lực, được ứng dụng từ năm 1969 tạo nên miễn dịch ít nhất là 16 năm, hoặc có thể cả đời. Vì vậy nên tiêm phòng Rubella rộng rãi cho trẻ từ 12-24 tháng tuổi. Đối với phụ nữ đang ở tuổi sinh đẻ, khi tiêm phòng, phải sử dụng các biện pháp tránh thai hữu hiệu trong 3 tháng liên tục, gồm 1 tháng trước khi chủng và 2 tháng sau khi chủng. Việc cách ly là rất khó, phải cách ly 8-10 ngày sau khi ban bay hết. Nhưng có ý kiến nên để cho trẻ mắc bệnh, vì Rubella là bệnh lành tính và sau khi khỏi, người bệnh có miễn dịch bền vững.

TS.Đào Kỳ Hưng

(TS. Đào Kỳ Hưng)

Tai sao có hiện tượng thai ngoài tử cung?

BS. Lưu Quốc Khả

Thai ngoài tử cung (TNTC) là hiện tượng trứng được thụ tinh nhưng làm tổ ở ngoài buồng tử cung và sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, thậm chí sẽ đe dọa đến tính mạng người mẹ nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời.

Tại sao có hiện tượng TNTC

Thông thường, trứng sau khi thụ tinh ở một phần ba ngoài của vòi trứng thì di chuyển vào buồng tử cung và làm tổ ở đó. Quá trình thai phát triển, buồng tử cung cũng phát triển để đủ chứa thai, bánh nhau và nước ối ở trong đó (ở thời kỳ thai đủ tháng, các sợi cơ tử cung đã phát triển, tăng chiều dài tới 40 lần so với khi không có thai). Nhưng vì một lý do nào đó, trứng sau khi được thụ tinh lại không di chuyển đến buồng tử cung để làm tổ mà lại dừng lại ở một nơi nào đó ngoài buồng tử cung (ở vòi trứng, ở buồng trứng hay trong ổ bụng…) và điều này sẽ dẫn đến TNTC.

 Quá trình vào tử cung của trứng sau khi thụ tinh.

Trong khi các sợi cơ tử cung có thể dài ra tới 40 lần để đáp ứng tình trạng mang thai của buồng tử cung thì buồng trứng và vòi trứng lại không lớn lên như vậy được. Vòi trứng dài khoảng 10cm, trong lòng vòi có chỗ hẹp dưới 1mm, khi trứng làm tổ ở đó và lớn lên sẽ làm vỡ vòi trứng gây chảy máu vào ổ bụng, đe dọa tính mạng người mẹ (khi trứng làm tổ ở buồng trứng cũng gây tình trạng như vậy).

Nguyên nhân dẫn đến TNTC

Người ta thấy: viêm nhiễm đường sinh dục, dị dạng đường sinh dục, các khối u buồng trứng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ TNTC.

Khi âm đạo và buồng tử cung bị viêm nhiễm (có thể do bệnh lây truyền qua đường tình dục, do thực hiện các thủ thuật như nạo hút thai không đúng quy cách, bơm hơi, bơm kháng sinh vào buồng tử cung…), vòi trứng cũng bị viêm làm tổn thương lớp niêm mạc và làm hẹp lòng vòi trứng lại và trứng sẽ khó khăn khi di chuyển về buồng tử cung, hoặc do rối loạn nhu động của vòi trứng nên trứng không những không di chuyển về buồng tử cung mà lại rơi vào bề mặt buồng trứng hoặc rơi vào ổ bụng và làm tổ ở đó.

Các khối u buồng trứng cũng có thể gây nên TNTC do khối u làm vòi trứng căng ra, hẹp lại và hạn chế nhu động nên trứng cũng khó di chuyển về buồng tử cung được.

Hậu quả của TNTC

Trước hết, TNTC khi bị vỡ sẽ gây chảy máu trong ổ bụng và tùy tình trạng của thương tổn cũng như thái độ xử trí của thầy thuốc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người bệnh. Có những trường hợp bệnh nhân đến muộn, đã có choáng, khi phẫu thuật đã phải truyền tới 2-3 lít máu mới cứu được người bệnh. Trong nhiều trường hợp được chẩn đoán sớm (khi chưa rõ), nếu tiến hành phẫu thuật nội soi cho bệnh nhân, kết quả bệnh nhân không bị mất máu, sức khỏe chóng hồi phục và trong nhiều trường hợp vòi trứng cũng được bảo tồn. Tuy vậy, khi đã có phẫu thuật điều trị TNTC thì khả năng có con của người mẹ sau này ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng.

Làm thế nào để hạn chế TNTC

Như trên chúng ta đã biết, viêm nhiễm đường sinh dục có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ bệnh lý TNTC. Vì vậy, để góp phần hạn chế tai biến này các bạn cần lưu ý:

Thực hiện nếp sống lành mạnh, chung thủy một vợ một chồng.

Tránh sinh hoạt tình dục bừa bãi, tốt nhất là dùng bao cao su khi giao hợp nếu không muốn có thai.

Hạn chế nạo phá thai. Khi phải nạo hút thai hoặc làm thủ thuật gì đó ở đường sinh dục dưới nên đến các cơ sở chuyên khoa, ở đó có những thầy thuốc có trình độ chuyên khoa sâu, cùng với những trang thiết bị đảm bảo, các yếu tố kỹ thuật, vô trùng, nó sẽ giúp bạn hạn chế được tình trạng viêm nhiễm đường sinh dục sau này.

(BS. Lưu Quốc Khả)

Thuốc mới giúp cải thiện chứng rối loạn tâm thần

Để nghiên cứu ảnh hưởng của nó đối với rối loạn tâm thần, các nhà khoa học tại Trường King’s College London, Anh đã tiến hành thí nghiệm trên thanh niên bị mắc các triệu chứng rối loạn tâm thần. Những người này được chia thành 2 nhóm: Nhóm 1 cung cấp 1 liều cannabidiol 600mg mỗi ngày, nhóm 2 dùng giả dược. Sau 3 giờ, các tình nguyện viên được yêu cầu thực hiện bài kiểm tra liên quan đến bộ nhớ và não của họ được tiến hành quét MRI. Kết quả cho thấy vùng não của những người nhóm 1 được bổ sung CBD có mức độ bất thường thấp hơn so với nhóm người dùng giả dược.

Hiện nay, Tổ chức Y tế Thế giới ước tính có khoảng 100.000 người trẻ đang phải trải qua các chứng rối loạn tâm thần mỗi năm và tối đa 3/100 người sẽ trải qua chứng rối loạn tâm thần vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời của họ. Do đó, qua phát hiện này, các nhà khoa học hy vọng sẽ sử dụng thành phần CBD để điều trị cho những người bị rối loạn tâm thần không thể điều trị bằng biện pháp khác.

Tuấn Minh

(theo Iflscience, 9/2018)

Chỉnh răng cho trẻ khi nào?

Ngày nay, khi đời sống của đa phần người dân đã được cải thiện, các ông bố bà mẹ lại càng có điều kiện để đầu tư cho con một hàm răng trắng đẹp và nụ cười rạng rỡ dù rằng chi phí nắn chỉnh răng là tốn kém và mất rất nhiều thời gian.

Vì sao răng bị lệch lạc?

Đầu tiên phải nói tới yếu tố di truyền. Thường thì trong gia đình có cha hay mẹ, cô chú có xương hàm nhỏ, còn răng thì quá to hoặc ngược lại, có sự mất cân xứng về kích thước giữa răng và hàm khiến các răng không thể xếp ngay ngắn trên cung hàm; Do một số thói quen không tốt về răng miệng khi trẻ còn nhỏ như tật mút ngón tay, mút môi và cắn môi, đẩy lưỡi, thói quen thở bằng miệng..; Do bị mất răng sữa sớm, răng vĩnh viễn không có được sự hướng dẫn và có thể đưa đến mọc lệch; Dinh dưỡng kém có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của xương hàm; các chấn thương răng làm vị trí các răng sẽ bị thay đổi dẫn tới xô lệch; Bệnh sâu răng, bệnh nha chu làm mất răng...

Nên nắn chỉnh răng cho trẻ khi nào?

Hiện nay, rất nhiều bố mẹ đưa con em mình đến các khoa răng hàm mặt tại các bệnh viện để khám vì lý do răng trẻ mọc lệch lạc, mọc chen chúc và phân vân lo lắng không biết có nên chỉnh sửa răng cho bé khi bé chưa thay hết răng sữa hay không.

Thời điểm tốt nhất để điều trị chỉnh hình răng hàm mặt là khi các răng vĩnh viễn đã mọc (10-12 tuổi). Ở lứa tuổi này, xương hàm đang phát triển, rất thuận lợi cho việc nới rộng và sắp xếp lại các răng. Nhưng để việc nắn chỉnh răng thực sự có hiệu quả hoàn hảo và không gặp nhiều cản trở về sau thì ngay từ khi bắt đầu thay răng sữa (6-7 tuổi) nên cho trẻ đi kiểm tra răng miệng thường xuyên để có thể thực hiện nắn chỉnh răng phòng ngừa kịp thời.

Nắn chỉnh răng phòng ngừa cần thực hiện rất sớm ngay khi bắt đầu thay răng sữa bằng răng vĩnh viễn (khoảng 6-7 tuổi) để điều chỉnh cho hàm răng vĩnh viễn mọc ngay ngắn và đều hơn, giúp cho việc nắn chỉnh toàn diện ở lứa tuổi đã thay hết răng sữa (khoảng 12 tuổi) trở nên dễ dàng và đạt kết quả tốt.

Cần điều trị sớm

Việc điều trị sớm - điều trị trong giai đoạn các vấn đề về sự phát triển răng mặt ở trẻ được dự báo xảy ra, nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng, đã được chứng minh có nhiều ưu điểm. Điều trị sớm không những tránh phải nhổ răng lại còn giúp chuẩn bị nền xương hàm, mở đường, định hướng cho các răng vĩnh viễn mọc lên đúng vị trí; Điều trị sớm sẽ giúp đạt được những kết quả tối ưu mà có thể không cần phải nhổ răng. Nhiều trường hợp bệnh nhân đến yêu cầu chỉnh nha khi việc tăng trưởng đã hoàn tất, bác sĩ bắt buộc phải nhổ răng để có thể chỉnh lại cho răng đều đặn, hoặc làm giảm hô, móm cho bệnh nhân; mang lại cơ hội để chỉnh hình những ca lâm sàng có lệch lạc trầm trọng về xương, nếu để đến thời điểm trẻ đã lớn, không còn tăng trưởng, sẽ không thể điều trị được bằng chỉnh nha đơn thuần, mà phải dùng phẫu thuật phức tạp và tốn kém để có được một kết quả hoàn hảo; Và quan trọng hơn điều trị sớm sẽ giúp tiết kiệm được kinh phí và giảm thời gian mang mắc cài trên toàn bộ cung răng sau này. Và thêm một điều quan trọng nữa là những vấn đề về răng của trẻ sớm được giải quyết, không tiến triển thành những lệch lạc răng mặt nghiêm trọng sau này.

Tốt nhất nên đưa trẻ đến bác sĩ chuyên môn về chỉnh hình răng mặt từ lúc 6,7 tuổi để bác sĩ sẽ kiểm tra và phát hiện các lệch lạc răng hàm hoặc nguy cơ sai hình trong tương lai. Bác sĩ sẽ có những lời khuyên nếu nhận thấy trẻ cần được can thiệp CHRM sớm và sẽ quyết định thời điểm điều trị. Một số trường hợp sẽ được giải quyết sớm, không cần phải chờ đến khi rụng hết răng sữa vì lúc đó, sự lệch lạc răng sẽ trầm trọng hơn.

Cần đưa trẻ đến khám bác sĩ chuyên khoa răng hàm mặt khi trẻ có bất thường trong sự phát triển của răng, quá trình mọc răng và thay răng sữa, quá trình phát triển và mọc răng vĩnh viễn. Có thể nêu một số ví dụ như: răng xoay hay các răng mọc chen chúc, răng mọc sai vị trí, răng xô lệch, không ngay ngắn trên cung hàm; thiếu răng bẩm sinh, răng dị dạng và răng dư, răng sữa mất sớm, răng chậm thay, răng di chuyển do chấn thương; trẻ có những thói quen xấu về răng miệng có thể gây sai lệch khớp cắn và những lệch lạc về răng và hàm mặt ví dụ như: mút tay, mút môi, tật đẩy lưỡi, thở miệng; Có những biểu hiện sai khớp cắn như cắn chìa, cắn sâu, cắn chéo, cắn hở, hô, móm; Có sự phát triển lệch lạc hay bất hài hòa giữa xương hàm trên và hàm dưới như cung răng và xương hàm hẹp; răng nhô ra trước hoặc răng thụt vào trong, xương hàm nhô ra trước hoặc xương hàm lùi ra sau...

BS. Ngô Văn Bình