7 cách thoát khỏi chóng mặt nhờ giảm stress

Để chữa chứng chóng mặt, ngoài những lời khuyên như: ăn đủ bữa, đủ chất; ngủ đủ giấc; vận động và tập luyện vừa đủ theo thể trạng cơ thể; dùng thuốc chữa chóng mặt cho tác dụng nhanh và an toàn như thuốc chữa chóng mặt có chứa hoạt chất dùng thuốc chữa chóng mặt có hoạt chất Acetyl-DL-leucine đang được các chuyên gia y tế đánh giá cao về khả năng chữa chóng mặt nhanh và an toàn nhất hiện nay… thì các cách giảm stress sau cũng có khả năng giúp bạn giảm chóng mặt hiệu quả.

1. Hãy đề ra thời khóa biểu cho bản thân: Hãy để đồng hồ báo thức đánh thức bạn vào buổi sáng vào một giờ nhất định. Bạn sẽ dậy đúng giờ và có một thói quen sinh hoạt đều đặn. Hầu hết mọi người đều thú nhận "Nếu như đi làm mà không ăn sáng, tôi thường bị đau đầu và rất dễ bị stress".

2. Hãy chiều chuộng các giác quan của bạn: Hãy tạo cho mình một thói quen làm một công việc gì đó một cách đều đặn mỗi ngày. Ví dụ như: sau giờ làm việc căng thẳng, hãy cắm một ngọn nến trên bàn ăn, ngửi một bông hồng trước bữa ăn, chơi một trò chơi nào đó để giải tỏa sự căng thẳng của bạn.

3. Thi vị hóa cuộc sống: Hãy trở nên lạc quan và yêu đời trước mọi việc. Những ngày nghỉ cuối tuần, bạn có thể cùng người thân đi picnic, thăm thú những danh thắng nổi tiếng trước khi bắt đầu một tuần làm việc mới.

4. Thường xuyên mỉm cười: Hãy cười thật to và sảng khoái nếu có thể, mọi sự mệt mỏi sẽ tan biến. Hãy học cách hài hước và đừng tiết kiệm nụ cười, vì nó là "10 thang thuốc bổ" của bạn.

5. Đi du lịch: Hãy biết tận hưởng và nhìn nhận những thay đổi của thế giới xung quanh mình. Nếu có điều kiện, bạn hãy đi du lịch trong và ngoài nước cùng với người thân. Những thắng cảnh đẹp cùng với con ngươi mới, phong tục tập quán mới sẽ kích thích trí tò mò và óc quan sát của bạn. Nó là giải pháp tốt nhất để thay đổi tâm trạng chán chường và mệt mỏi của bạn sau những tháng ngày làm việc căng thẳng.


6. Hãy tự thỏa mãn mình: Mỗi khi công việc làm cho bạn cảm thấy mệt mỏi và stress dồn nén, hãy "nuông chiều" mình bằng cách thưởng cho mình một thú vui thích nào đó. Bạn đừng bắt mình phải phục tùng theo một chế độ cứng nhắc nào nếu như thời điểm thực hiện không thích hợp. Hãy thử "phá lệ" một lần xem.

7. Đừng ngần ngại “dựa dẫm” vào người khác: Khi cảm thấy stress, bạn cần có một chỗ dựa, cần một người để chia sẻ. Hãy tìm đến những người bạn, những người thân thương nhất để được sẻ chia và nhận những lời khuyên của họ. Họ sẽ vỗ về và có thể là liều thuốc tốt nhất với bạn lúc đó.

13 giải pháp mạnh cần thiết cho viêm tuyến tụy

Viêm tụy là tình trạng viêm tuyến tụy, một bộ phận nhỏ nằm gần khoang bụng. Khi tuyến bị viêm, các mạch máu xung quanh cũng có thể bị viêm, và có thể bị chảy máu và nhiễm trùng. Nguyên nhân là do tuyến tụy phải hoạt động nhiều để sản xuất các chất trong tiến trình tiêu hóa. Viêm tụy có 2 loại: cấp tính và mạn tính.

Trong trường hợp viêm tụy mạn tính, người bệnh có thể mắc trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, trường hợp này cần có sự thăm khám và chăm sóc của đội ngũ y tế. Nếu không được điều trị, viêm tụy có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng hơn, chẳng hạn như tiểu đường, suy thận, nhiễm trùng tuyến tụy, suy hô hấp và tang nguy cơ ung thư tuyến tụy. Tuy nhiên, cũng nhiều trường hợp viêm tụy có thể điều trị khỏi hẳn nhờ các phương pháp tự nhiên, hoặc kết hợp điều trị tại nhà.

1. Quả việt quất

Sự xuất hiện của các gốc tự do có thể làm tăng nguy cơ mắc chứng viêm tụy. Một trong những thực phẩm chống gốc tự do tốt nhất là quả việt quất. Việt quất chứa chất chống oxy hóa và có thể giảm viêm xuất hiện ở bất cứ đâu trên cơ thể rất nhanh. Ăn một ít việt quất buổi sáng có thể giảm nguy cơ mắc bệnh này hoặc giảm ngừa triệu chứng

2. Đậu hũ

Thay thế thịt bằng đậu hũ là một lựa chọn tốt cho người mắc viêm tụy, đặc biệt là người viêm tụy mạn tính. Chứng viêm tụy gây ra bởi nguyên nhân nhiều nhất từ hàm lượng chất béo cao đi vào trong máu, có thể do bệnh nhân ăn nhiều thịt đỏ. Nên chỉ cần cắt bớt thịt đỏ trong khẩu phần ăn thì đã giảm nguy cơ mắc viêm tụy và khả năng chữa lành.

3. Nhân sâm

Nhân sâm là một trong những giải pháp từ thiên nhiên lâu đời nhất và đáng tin cậy nhất cho một số các vấn đề về sức khỏe, đặc biệt là các bệnh có tính chất viêm và liên quan đến đường tiêu hóa. Đối với trường hợp viêm tụy, trà nhân sâm hoặc bổ sung nhân sâm có thể được thực hiện để giảm viêm khắp cơ thể và giảm đau.

4. Châm cứu

Châm cứu và phương pháp cổ đại cho viêm tụy, và bằng cách châm cứu vào một số điểm huyệt quan trọng có thể làm giảm đau và chữa viêm.

5. Sữa chua

Chúng ta ăn sữa chua vì nhiều lý do, nhưng cơ chế chủ yếu của sữa chua là cân bằng hoạt động của vi khuẩn trong dạ dày để cải thiện quá trình tiêu hóa và ngăn ngừa nhiễm trùng đường ruột. Điều này có thể tăng cường đáng kể hệ thống miễn dịch, sau đó nhờ vào hệ thống miễn dịch được cải thiện sẽ hỗ trợ giảm viêm ở các khu vực khác trong hệ thống tiêu hóa, như dạ dày hay tuyến tụy.

6. Nấm linh chi

Loại nấm đặc biệt này là một trong những loại thực phẩm đông đặc nhất khi nhắc đến chất chống oxy hóa và các hợp chất hữu cơ hoạt động có thể có tác dụng tích cực đến sức khỏe của chúng ta. Trong viêm tụy, nấm linh chi có thể là dịu dạ dày và làm giảm viêm.

7. Rau bina

Rau bina và các loại rau lá xanh khác là một gợi ý cho người mắc bệnh này có thể sử dụng thường xuyên. Viêm tụy thường trở nên tệ hơn khi thiếu hụt vitamin, đặc biệt là vitamin A, E và C, cũng như selen. May mắn thay tất cả các dinh dưỡng thiết yếu này đều có trong rau bina, vì vậy đừng ngại ngần làm món salad rau bina để có thể giảm cơn đau nhanh chóng.

8. Dầu dừa

Khi nấu ăn, bạn nên tránh dầu thực vật truyền thống (nếu có thể), vì hàm lượng chất béo không tốt cho chứng viêm tụy. Tuy nhiên, dầu dừa và các loại dầu thay thế như dầu oliu lành mạnh hơn rất nhiều, và có sự cân bằng tốt hơn các axit béo omega-3 và omega-6, giúp ngăn ngừa tình trạng viêm này.

9. Nho đỏ

Một chất chống oxy hóa mạnh khác đã được chứng minh có tác dụng tốt đối với viêm tụy là resveratrol, được tìm thấy có hàm lượng cao trong nho đỏ. Đây không chỉ là một thực phẩm ngon mà còn là một phương thuốc hiệu quả.

10. Cắt đường

Hàm lượng cao của bánh kẹo và đồ ngọt hay thực phẩm có đường trong chế độ ăn uống của bạn có thể là một yếu tố góp phần quan trọng làm tăng gánh nặng cho tuyến tụy. Đồ ngọt có thể làm tăng chất béo xấu trong máu của chúng ta và cũng buộc tuyến tụy phải làm việc chăm chỉ hơn để bù đắp cho hàm lượng đường trong hệ thống chuyển hóa. Đó là lý do gây ra những trục trặc cho tuyến tụy hoặc có thể gây viêm.

11. Luyện tập thể dục đều đặn

Cải thiện sự trao đổi chất là chìa khóa duy trì sức khỏe tổng thể và điều chỉnh chức năng của tuyến tụy. Bằng cách đảm bảo rằng bạn tập thể dục đều đặn, cơ thể bạn sẽ tự động đốt cháy lượng calo và ngăn ngừa tích tụ mỡ thừa, điều này làm giảm nguy cơ mắc viêm tụy.

12. Nghệ

Tiềm năng chống oxy hóa của nghệ với thành phần hoạt chất curcumin là rất tuyệt vời. Chỉ cần bạn uống một cốc nước trộn bột nghệ mỗi sáng, bạn sẽ loại bỏ mọi tình trạng viêm một cách nhanh chóng, nên không ngoại trừ cả viêm tụy.

13. Giảm cân

Cùng với chế độ ăn uống lành mạnh, ít chất béo và tập thể dục thường xuyên thì cân nặng cũng là vấn đề bạn cần kiểm soát. Nhưng như một sự tương tác hiệu quả lẫn nhau, khi ban duy trì được chế độ ăn uống và tập luyên như nói ở trên hẳn nhiên cân nặng cũng được điều chỉnh một cách phù hợp, đặc biệt ngăn ngừa tình trạng béo phì.

Béo phì là nguyên nhân hang đầu gây viêm tụy, vì vậy nếu bạn mắc chứng béo phì hãy cố gắng hết sức để giảm cân, nếu như bạn đã bị viêm tụy hay mạn tính thì việc này càng trở nên nghiêm trọng khi kéo theo rất nhiều chứng viêm khác trên cơ thể.

Hà Anh

(Theo Organicfacts)

Khắc phục một số trục trặc thường gặp sau sinh

Sau khi sinh, thông thường thời gian nằm viện của các bà mẹ khoảng 1-2 ngày, việc theo dõi sức khỏe tại nhà là rất cần thiết. Bài viết dưới đây nhằm cung cấp cho bạn đọc các dấu hiệu cơ bản hay gặp sau sinh để được xử trí kịp thời, tránh những biến chứng không mong muốn.

Bí tiểu tiện:

Sản phụ có cảm giác buồn tiểu nhưng không tiểu được, sản phụ khó tiểu tiện vì thành trước âm đạo bị thay đổi hoặc bị chấn thương làm niệu đạo bị gấp hay cơ cổ bàng quang bị đóng chặt. Triệu chứng bụng dưới to, đau do bàng quang đầy và đau. Gặp tình huống này bạn nên trao đổi với bác sĩ điều trị để được thông tiểu và làm sạch bàng quang.

Tử cung co chậm và bế sản dịch:

Sau khi sinh tử cung co lại không còn sờ nắn thấy tử cung ở trên bụng nữa. Thường trong 10 ngày đầu sau khi sinh, tử cung co hồi tốt nhằm tống sản dịch ra ngoài. Khi tử cung co chậm, sản dịch sẽ bị ứ đọng trong tử cung, triệu chứng đau bụng dưới, sản dịch hôi và sốt sẽ gây nhiễm trùng tử cung, viêm dạ con. Viêm dạ con nếu không điều trị kịp thời bệnh chuyển biến thành thể nặng rất nhanh. Các bà mẹ cần vận động sớm (đi lại nhẹ nhàng...) để tử cung co hồi tốt.

Nhiễm trùng đường tiểu là một trong những dấu hiệu thường gặp sau sinh.

Sản giật sau đẻ:

Sản giật sau đẻ có thể xảy ra vài giờ sau đẻ nhưng cũng có khi muộn, nhiều ngày sau đẻ, với các biểu hiện giật, đau đầu, mờ mắt, huyết áp cao trên 140/90mmHg, tiểu tiện ít, phù 2 chi dưới... Biến chứng đáng lo ngại nhất là xuất huyết não, tổn thương thận gây bệnh thận mạn tính.

Đau vùng tầng sinh môn

Trong vài ngày đầu, sản phụ cảm thấy khó chịu và khó khăn khi di chuyển, đi lại do tầng sinh môn bị chấn thương hoặc bị cắt nới khi đẻ, mặt khác, tầng sinh môn rất dễ bị nhiễm khuẩn, khi thấy đau tức, cảm giác phù nề, bứt rứt, có dịch mủ... thì nên đến bệnh viện để được xử trí kịp thời.

Táo bón sau sinh

Sau khi sinh, cơ thể mệt mỏi, ngại vận động đi lại, làm cho nhu động ruột giảm có thể gây ra táo bón và nhiều nguyên nhân khác như do dùng thuốc, do ăn uống... Táo bón sau sinh có thể xuất hiện ngay sau khi sinh nở và kéo dài từ vài tuần cho đến vài tháng với triệu chứng bụng đầy trướng, hậu môn đau rát, dễ phát sinh bệnh trĩ... gây khó chịu cho người mẹ và ảnh hưởng đến ăn uống và tiết sữa. Nếu táo bón kéo dài bạn nên đến gặp bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn và dùng thuốc.

Tắc tia sữa và áp-xe vú

Vài ngày sau khi sinh vú cương to vì đã tiết sữa đầy đủ. Vú nóng, nặng, căng tức. Dấu hiệu này rất hay gặp. Sữa trong vú nếu không ra ngoài được do tia sữa bị tắc nghẽn, do viêm đầu vú hoặc nứt kẽ đầu vú dẫn đến viêm tuyến sữa, viêm ống dẫn sữa và áp-xe vú. Khi phát hiện bị tắc tia sữa thì phải chườm nóng, xoa bóp, vắt hết chỗ sữa bị tắc cho đến khi thông. Viêm ở vú có dấu hiệu sốt, sưng đỏ, đau, rạn nứt đầu vú... thì bạn đến cơ sở y tế để khám và xử trí kịp thời.

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu

Do cổ bàng quang bị tổn thương trong khi đẻ hoặc do vệ sinh bộ phận sinh dục sau đẻ không đúng cách, không sạch sẽ hoặc tổn thương đường tiết niệu, dò bàng quang âm đạo dẫn đến chứng tiểu buốt, tiểu dắt, rối loạn tiểu tiện, nước tiểu dầm dề... Tổn thương này thường tạm thời và không kéo dài. Bạn cần theo dõi và điều trị theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Hoa mắt, chóng mặt sau đẻ:

Sản phụ sau khi sinh do mất máu, mất sức nhiều, thể lực giảm có triệu chứng hoa mắt, chóng mặt. Vì vậy các bà mẹ sau đẻ không nên kiêng khem, ăn uống và nghỉ ngơi khoa học, hợp lý, vận động phù hợp. Có thể dùng thêm các vitamin tổng hợp để cơ thể nhanh chóng hồi phục theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc.

ThS. Lê Thị Hương

Nhiễm độc thai nghén

Nhiễm độc thai nghén là một chứng bệnh chỉ phát sinh trong thời kỳ thai nghén. Nhiễm độc thai nghén ở 3 tháng đầu, thai phụ có biểu hiện nghén nặng, ở thời kỳ cuối thai nghén (3 tháng cuối) thai phụ có triệu chứng phù, tăng huyết áp, protein niệu... Nhiễm độc thai nghén nếu không được điều trị có thể dẫn tới tiền sản giật, sản giật. Ở sản phụ có nhiễm độc thai nghén, trẻ sơ sinh thường bị ngạt khi đẻ.

Nhiễm độc thai nghén ở 3 tháng đầu

 Tư vấn về sức khỏe sinh sản cho phụ nữ mang thai.
Nhiễm độc thai nghén nhẹ: Sau khi có thai, nhiều chị em thấy xuất hiện các triệu chứng mà dân gian thường gọi là “ốm nghén”. Ốm nghén thường biểu hiện bằng tình trạng mệt mỏi, gầy, xanh, lợm giọng, buồn nôn, ứa ra nước dãi hoặc nôn ọe thực sự. Người có thai thường sợ cơm và thức ăn mà trước đây họ rất ưa thích nhưng lại rất thích ăn vặt. Thích các thức ăn chua và ngọt. Hiện tượng nhiễm độc thai nghén nhẹ ở 3 tháng đầu thai kỳ bắt đầu từ khi có thai khoảng gần 1 tháng và thường kéo dài đến 3 tháng. Sau đó, các triệu chứng ốm nghén giảm dần rồi mất hẳn, thai phụ trở lại tình trạng bình thường. Tình trạng thai nghén có khả năng làm cho người phụ nữ hơi gầy sút đi nhưng không bị gầy yếu nặng.

Nhiễm độc thai nghén nặng ở 3 tháng đầu kỳ thai diễn biến khác hẳn. Lúc đầu, thai phụ cũng có triệu chứng của nhiễm độc nhẹ nhưng thường xảy ra sớm hơn. Tình trạng nhiễm độc mỗi ngày một nặng hơn, đặc biệt là nôn mửa. Thai phụ nôn nhiều, ăn thứ gì vào là nôn hết ra thức ấy, thậm chí nôn hết thức ăn rồi vẫn tiếp tục nôn ra nước dãi hoặc nôn khan. Do nôn nhiều và không ăn uống được gì nên cơ thể thai phụ bị mất nước, gầy sút trông thấy.

Đối với tình trạng nhiễm độc thai nghén nhẹ, thai phụ chỉ cần nghỉ ngơi, nên ăn nhẹ và chia ra làm nhiều bữa trong ngày. Có thể sử dụng một ít thuốc an thần để chống nôn theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Nhiễm độc thai nghén trong 3 tháng cuối thai kỳ, bao gồm các triệu chứng sau:

Phù: Phù 2 chân, thường xuất hiện vào 3 tháng cuối của thai nghén. Phát hiện bằng cách ấn ngón tay vào mắt cá chân có dấu hiệu lõm của ngón tay. Ở những người bị phù nặng, có thể phù cả ở mặt và hai tay. Những thai phụ bị phù do thai nghén chèn ép thì chỉ cần nằm nghỉ ngơi, gác cao chân lên sẽ hết phù. Còn ở những bà mẹ bị nhiễm độc thai nghén thì phù ở chân không giảm sau nghỉ ngơi. Cân nặng tăng nhanh tới 500 gam mỗi tuần là do hiện tượng giữ nước trong cơ thể.

Protein niệu: Nếu kết quả xét nghiệm nước tiểu cho protein niệu lớn hơn 0,3g/l là không bình thường, cần theo dõi nhiễm độc thai nghén.

Tăng huyết áp: Thai phụ có nhiễm độc thai nghén, ở thời kỳ cuối của thai nghén huyết áp tối đa tăng lên khoảng 30mmHg và huyết áp tối thiểu tăng khoảng 15mmHg so với trước khi có thai, hoặc có huyết áp trên 140/90mmHg thì cần được theo dõi và điều trị nhiễm độc thai nghén.

Biến chứng của nhiễm độc thai nghén

Nhiễm độc thai nghén nếu không được điều trị tốt sẽ dẫn đến tiền sản giật và giản giật.

Tiền sản giật: Sản phụ choáng váng, có hiện tượng mắt mờ, có khi buồn nôn, nước tiểu có protein tăng đến 0,5g/l, phù không giảm mà nặng hơn và nước tiểu ít hơn, nhưng chưa có cơn giật.

Nếu huyết áp trên 160/100mmHg mà điều trị không giảm phải lấy thai ra ngay nếu không có thể dẫn đến cơn sản giật.

Sản giật: Thường xảy ra ở thời kỳ cuối của thai nghén, trong khi chuyển dạ và sau đẻ. Sản phụ lên cơn giật và hôn mê có kèm theo phù, tăng huyết áp, protein niệu. Thường xảy ra ở thai phụ mang thai con so nhiều hơn con rạ và thường xảy ra từ tuần thứ 30 trở đi.

Khi bị sản giật, toàn thân co cứng, mắt đảo, đầu ưỡn ra sau, mắt đảo lên trời, rồi ngừng thở, sau đó chuyển rất nhanh sang giật run, co giật ở mặt, giật mạnh ở tay chân. Có thể cắn phải lưỡi và sùi bọt mép, mặt xanh tái rồi chuyển sang thành xám xịt, sau đó co giật giảm dần, sản phụ bị hôn mê rồi thở rống lên. Mạch nhanh, cơn co tăng lên khi giật. Hiện tượng này nếu không được xử lý thì dẫn đến suy tim, phù phổi, chảy máu não thậm chí tử vong.

Đối với sản giật trước đẻ, những cơn giật có thể dẫn đến đẻ non, thai nhi thường chết. Nếu được điều trị tốt, sản phụ có thể chuyển dạ đẻ thường và thai nhi sống.

Đối với sản giật trong khi chuyển dạ, cơn giật sẽ làm cơn co tử cung mạnh. Vì vậy nếu cổ tử cung của sản phụ mở chậm phải xử trí bằng mổ lấy thai ngay.

Sản giật sau đẻ thường nhẹ hơn, cơn giật thường xảy ra vài giờ sau đẻ. Vì vậy đối với sản phụ sinh tại trạm y tế có cơn giật cần phải theo dõi từng cơn giật, đo huyết áp, thử nước tiểu thường xuyên và cần phải cấp cứu nhanh chóng, đồng thời phải chuyển ngay bệnh nhân đến bệnh viện có chuyên khoa sản để điều trị.

Để phòng sản giật

Cần theo dõi, quản lý thai nghén tốt. Khi có thai cần chú ý đủ chất dinh dưỡng một cách hợp lý (đường, đạm, vitamin, các chất vi lượng, uống bổ sung viên sắt, axit folic...). Chú ý đi khám thai định kỳ, nếu thấy phù cần đi khám thai ngay dù chưa đến hẹn để được kiểm tra huyết áp, xét nghiệm nước tiểu. Nếu tại trạm y tế phát hiện sản phụ có phù, tăng huyết áp, protein niệu phải kịp thời chuyển bệnh nhân đến bệnh viện có chuyên khoa sản để điều trị và sinh đẻ cho an toàn.

Cách xử trí

Dùng một cái nẹp dài hoặc một que to bản như cái đè lưỡi cuốn băng ở bên ngoài để ngáng miệng, đề phòng sản phụ trong cơn sản giật cắn vào lưỡi. Nếu là mùa đông, cần giữ ấm cho sản phụ. Tiêm ngay một trong các thuốc an thần như morphin 0,01mg x 1 ống, hoặc thuốc như barbituric, seduxen rồi nhanh chóng chuyển sản phụ lên bệnh viện có chuyên khoa sản.

Cần lưu ý, những sản phụ có lên cơn giật thì phải đề phòng chảy máu nhiều sau đẻ. Nhiễm độc thai nghén không được điều trị, theo dõi có thể dẫn đến tiền sản giật và sản giật. Những thai phụ ở tháng thứ 7 hoặc tuần thứ 30 mà huyết áp tối đa tăng thêm 30mmHg và huyết áp tối thiểu tăng thêm 15mmHg so với trước khi có thai và những thai phụ có huyết áp trên 140/90mmHg thì phải được theo dõi và điều trị ngay để phòng tránh tai biến sản giật.

BS. Bích Ngọc - raFH

Trầm cảm sau sinh: SOS!

Sau khi sinh đứa con đầu lòng, từ một cô gái luôn vui vẻ, dịu dàng, yêu chiều chồng, Lan bỗng trở nên ít nói, dễ cáu gắt, hay khóc, không còn muốn sẻ chia với người thân... Lo lắng trước sự thay đổi đột ngột của vợ, chồng Lan đã đưa cô tới chuyên gia tâm lý, sau khi thăm khám và làm các xét nghiệm cần thiết, bác sĩ đã kết luận cô mắc hội chứng trầm cảm sau khi sinh - đó là một hội chứng phổ biến ở phụ nữ.

Theo nhiều nghiên cứu, có tới 41% phụ nữ bị trầm cảm sau khi sinh và nguy cơ tái phát của hội chứng này là 50%. Các rối loạn tâm thần thường xuất hiện khoảng vài ngày đến 6 tuần sau sinh, với nhiều mức độ khác nhau. Ở dạng trầm cảm nhẹ, sau khi sinh khoảng 3-4 ngày người mẹ thường thấy mệt mỏi, các hoạt động vô cùng khó khăn và vụng về, lo lắng thái quá đối với sức khỏe của con và của bản thân, khóc lóc vô cớ... Nếu bị trầm cảm nặng, từ trạng thái lo lắng, người mẹ trở nên buồn rầu, hay cáu gắt vô cớ, có những xử sự kỳ quặc với đứa con mới đẻ và những đứa trẻ khác. Nếu tình trạng trầm cảm nặng kéo dài quá 2 tuần, người mẹ sẽ rơi vào trạng thái rối loạn hành vi, với các biểu hiện như luôn cho rằng mình và con mắc bệnh hiểm nghèo, buồn rầu và hay khóc vô cớ, mất định hướng về không gian và thời gian, không chủ động được bản thân, có những lời nói hay hành vi thô bạo, xúc phạm tới người xung quanh. Thậm chí, nhiều người mẹ còn không quan tâm tới con của mình, bỏ mặc, hành hạ con, thậm chí giết hại hoặc tự sát.

Cần phân biệt giữa “cơn buồn thoáng qua sau sinh” - một phản ứng bình thường của sản phụ sau khi sinh, với tình trạng trầm cảm sau sinh. Ở “cơn buồn thoáng qua sau sinh”, người mẹ thường thấy mệt mỏi, lo lắng, thoáng buồn... Tình trạng này thường xuất hiện sau sinh và kéo dài vài 3 ngày là chấm dứt. Nhưng, nếu tình trạng trên kéo dài hơn 10 ngày với các triệu chứng ngày càng nặng hơn như: Luôn cảm thấy buồn, không quan tâm đến những sự việc chung quanh, ăn không ngon dẫn đến sụt cân, khó ngủ, luôn cảm thấy mệt mỏi, hay khóc không lý do, thấy bản thân vô giá trị hoặc có một tội lỗi gì ghê gớm, luôn bồn chồn, lo âu hay dễ tức giận, bi quan về tương lai, không muốn chăm sóc con hay sợ mình sẽ làm hại đứa bé... thì bệnh nhân bị rối loạn trầm cảm sau sinh.

Hiện nay, y học vẫn chưa biết được nguyên nhân chính xác của chứng trầm cảm sau sinh, nhưng có một vài giả thiết cho rằng đó là hậu quả của sự thay đổi của vài loại nội tiết tố sinh dục trong khi có thai và ngay sau khi sinh, do sinh khó, có thai ngoài ý muốn, không được sự hỗ trợ của người thân trong quá trình sinh nở và nuôi con, phải tự chăm sóc con ban đêm, cuộc sống căng thẳng, trở lại công việc hằng ngày sớm hơn 30 ngày... Ngoài ra, trầm cảm sau sinh một phần là do hệ quả của lối sống hiện đại. Cuộc sống sôi động với nhiều áp lực đã khiến các bà mẹ trẻ chưa kịp học hỏi kinh nghiệm từ những người đi trước, chưa chuẩn bị sẵn tâm lý làm mẹ nên thường nảy sinh tâm lý lo lắng thái quá, dẫn tới trầm cảm.

Trầm cảm sau sinh tuy không phải là bệnh nghiêm trọng, nhưng nếu không có phương pháp điều trị sớm và tích cực sẽ ảnh hưởng rất xấu tới sức khỏe cả tinh thần và thể chất của người mẹ, của người cha, đặc biệt là của đứa trẻ. Trẻ nhỏ có mẹ mắc chứng trầm cảm sẽ bị ảnh hưởng tính cách khi trưởng thành như rụt rè, nhút nhát trước đám đông, rối loạn ngôn ngữ, nhận thức chậm, hành động tiếp thu yếu hơn các bạn cùng trang lứa.

Để tinh thần của người mẹ sau khi sinh được ổn định, vui vẻ, thoải mái, ngay từ khi bắt đầu mang thai, sản phụ và người thân, đặc biệt là người chồng, cần có những biện pháp tâm lý thật tốt. Với các bà mẹ trẻ, ngoài việc đọc sách báo và học hỏi kinh nghiệm về chăm sóc sức khỏe bản thân khi mang thai, chăm sóc và nuôi dạy em bé... Còn cần phải học hỏi các phương pháp xử lý những rắc rối khi gia đình có thêm thành viên mới. Mang thai, sinh nở và nuôi dạy con là một biến động rất lớn, thậm chí là có thể thay đổi hoàn toàn so với cuộc sống thời son rỗi. Người mẹ sẽ vất vả hơn, mệt mỏi hơn, lo lắng nhiều hơn; thời gian dành cho bản thân, cho người thân, cho sự nghiệp không còn nhiều; kinh tế xáo trộn; quan hệ thay đổi... Xác định được điều đó sẽ giúp các bà mẹ vượt qua những năm tháng khó khăn đầu tiên khi gia đình có thêm thành viên mới.

Ngay từ thời kỳ thai nghén, nếu bắt đầu xuất hiện các triệu chứng của trầm cảm, bên cạnh việc nghỉ ngơi, thoải mái, làm việc nhẹ nhàng, thai phụ rất cần sự động viên, nâng đỡ tinh thần của người thân và bạn bè. Nếu có các rối loạn tâm thần nặng thì cần được đưa đến khám tại các cơ sở chuyên khoa.

Sau khi sinh con vài ngày, người mẹ cần theo dõi các diễn biến tâm lý của chính mình để kịp thời điều chỉnh. Với trầm cảm nhẹ, có thể can thiệp bằng những viên thuốc ngủ giúp giải quyết những cơn mất ngủ trước mắt. Kèm theo đó là sự chủ động từ phía các bà mẹ trẻ trong việc chia sẻ suy nghĩ và công việc với người thân để giải tỏa gánh nặng. Trong trường hợp bệnh có liên quan đến nồng độ hormon bác sĩ sẽ kê toa thuốc cân bằng lại lượng hormon. Điều quan trọng là bạn đừng cố gắng chống lại hiện tượng mệt mỏi này mà hãy nghỉ ngơi, thư giãn càng nhiều càng tốt. Bạn hãy tự nhủ rằng những cảm giác căng thẳng này rồi sẽ qua, hãy thư giãn để thưởng thức mọi cung bậc tình cảm, bởi vì con bạn lớn rất nhanh. Cùng với sự chuẩn bị tốt về tâm lý của sản phụ, những lời khuyên giải, động viên, nâng đỡ của người thân sẽ giúp tinh thần của các bà mẹ bình thường trở lại. Chỉ có khoảng 15% kéo dài trạng thái trầm cảm đến hàng năm, hoặc bị trầm cảm nặng có các rối loạn hành vi. Những trường hợp này cần phải đưa đến các cơ sở chuyên khoa tâm thần để điều trị. Khi bệnh đã tạm ổn định, người mẹ cần được động viên, an ủi, nâng đỡ về tinh thần để tránh mặc cảm.

BS. Trần Thu Thủy

Phát hiện suy thận thế nào?

Phạm Thanh Đoàn (phamdoan@gmail.com)

Dấu hiệu mắc bệnh thận là thay đổi khi đi tiểu: Những thay đổi như tiểu nhiều vào đêm, nước tiểu có bọt, lượng nước tiểu nhiều hơn/ít hơn bình thường và nước tiểu có màu nhợt/màu tối, nước tiểu có máu, cảm thấy căng tức hay đi tiểu khó khăn...; Phù:

Thận bị hỏng không loại bỏ được chất lỏng dư thừa nữa, do vậy chất lỏng tích tụ trong cơ thể khiến bạn bị phù ở chân, cổ chân, bàn chân, mặt...; Mệt mỏi: Những quả thận khỏe mạnh tạo ra một hormon gọi là erythropoietin, hormon này thông báo cho cơ thể tạo ra các tế bào hồng cầu mang ôxy. Khi thận bị hỏng, chúng tạo ra ít erythropoietin hơn, cơ thể có ít các tế bào hồng cầu vận chuyển ôxy hơn, nên các cơ và đầu óc của bạn mệt đi nhanh chóng.Tình trạng này được gọi là thiếu máu do suy thận; Ngứa: Thận có chức năng loại bỏ các chất cặn bã ra khỏi máu.

Khi thận bị suy, sự tích tụ của các chất thải này trong máu có thể gây ngứa ở da; Hơi thở có mùi amoniac: Sự tích tụ của các chất thải trong máu (được gọi là chứng urê huyết) có thể khiến thức ăn có vị khác đi và khiến hơi thở có mùi. Bạn cũng nhận thấy rằng bạn không thích ăn thịt nữa; Thở nông: Đó là do chất lỏng dư thừa trong cơ thể tích tụ trong hai lá phổi kèm theo tình trạng thiếu máu (sự thiếu hụt các tế bào hồng cầu vận chuyển ôxy) sinh ra chứng thở nông; Ớn lạnh: Thiếu máu có thể khiến bạn cảm thấy lúc nào cũng lạnh... Trường hợp của bác nên định kỳ khám, xét nghiệm máu và dùng thuốc huyết áp theo chỉ định.

BS. Vũ Ngọc Anh

Biến chứng đặc biệt nguy hiểm của viêm tụy cấp

Viêm tụy cấp là một bệnh lý cấp tính của tuyến tụy, có thể thay đổi từ viêm tụy phù nề cho đến viêm tụy xuất huyết và hoại tử. Đây là một trong các bệnh lý cấp cứu tụy hay gặp. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể dẫn đến các biến chứng, thậm chí nguy hiểm dẫn đến tử vong.

Những dấu hiệu điển hình

Dấu hiệu hay gặp nhất là đau đột ngột vùng trên rốn, đôi khi có thể từ từ, mới đầu nhẹ, sau đó tăng dần rồi đau lan dần ra sau lưng, tính chất đau rất thay đổi. Có thể đau liên tục vừa phải và kéo dài, có khi đau dữ dội như dao đâm, đau vật vã làm cho bệnh nhân nghẹt thở. Khi bệnh nhân ngồi gập bụng cảm thấy đỡ đau nhưng khi nằm ngửa thì đau tăng lên. Vị trí đau thường ít thay đổi, nếu có lệch sang phải hay bên trái thì là dấu hiệu tổn thương ở đầu hay đuôi tụy. Với biểu hiện đau này gần giống với đau bụng cấp trong bệnh lý dạ dày tá tràng, nhất là xuất hiện sau khi uống rượu bia nhiều sẽ làm cho chúng ta chủ quan không đi khám ngay và nhiều trường hợp đã để lại những hậu quả nghiêm trọng.

Sỏi mật là một trong những nguyên nhân gây viêm tụy cấp.

Sỏi mật là một trong những nguyên nhân gây viêm tụy cấp.

70 - 80% các trường hợp có nôn.

Toàn thân có hội chứng nhiễm trùng với các biểu hiện như sốt, đau đầu, môi khô, lưỡi bẩn; nhất là trong trường hợp do giun và sỏi có thể xảy ra ngày đầu hoặc ngày thứ hai; còn trong viêm tụy cấp do rượu, nhiễm trùng thường đến muộn sau 5-7 ngày do bội nhiễm.

Ngoài ra, nếu trong trường hợp có viêm tụy cấp hoại tử thì có thêm các biểu hiện khác như mạch nhanh nhỏ, huyết áp hạ, đầu chi lạnh, tím tái...

Nguyên nhân nào?

Có nhiều yếu tố nguyên nhân trong bệnh sinh viêm tụy cấp, nhưng cơ chế chủ yếu của viêm tụy cấp đến nay vẫn chưa được hoàn toàn biết rõ. Trong đó có một vài lý do hay được nhắc đến. Đầu tiên là do các yếu tố tắc nghẽn đường dẫn mật tụy như do sỏi; giun; u; do chèn ép từ ngoài đã làm viêm tụy cấp hoặc do kích thích tiết quá nhiều dịch tụy như ăn quá nhiều, nhất là sau một thời gian nhịn đói, sự tắc nghẽn này thường kèm theo sự trào ngược dịch ruột và dịch tụy đã được hoạt hóa khi đến tá tràng có thể kèm theo dịch mật là những yếu tố gây hoạt hóa men tụy.

Tiếp đến là do rượu, rượu có thể gây viêm tụy cấp nhưng cũng có thể gây viêm tụy mạn.

Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác như sau chấn thương vùng bụng; sau nội soi mật tụy ngược dòng; nhiễm khuẩn sau phẫu thuật, nhất là sau phẫu thuật bụng; nhiễm trùng sau quai bị, viêm gan virut; do dùng thuốc (thuốc lợi tiểu thiazid, furosemid, thuốc ngừa thai...).

Biến chứng cực kỳ nguy hiểm của viêm tụy cấp

Nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời, viêm tụy cấp có thể diễn biến thành hoại tử tụy, thường hoại tử tụy ít khi khu trú mà lan rộng do hiện tượng tự tiêu của tuyến tụy dưới tác động của các men tiêu protein và lipid được hoạt tác ngay trong lòng tuyến tụy. Tiếp theo đó sẽ dẫn đến chảy máu tụy, thậm chí gây hoại tử tụy các tạng xung quanh như hoại tử mạch mạc treo gây chảy máu trong ổ bụng, gây thủng tá tràng, đại tràng... muộn hơn sẽ biến chứng thành áp-xe tụy. Bệnh nhân tử vong do chảy máu, sốc nhiễm khuẩn. Tỷ lệ tử vong do viêm tụy cấp có thể tới trên 15% và tử vong trong viêm tụy cấp do rượu cao gấp 3 lần so với tử vong trong viêm tụy cấp do sỏi hoặc giun.

Chữa trị và phòng ngừa như thế nào?

Phần lớn viêm tụy cấp là thể phù (85-90%), điều trị chủ yếu bằng phương pháp nội khoa và bệnh sẽ thoái triển sau 5-7 ngày. Các biện pháp thông thường là: hút dịch vị, nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch khi các triệu chứng đau giảm nhiều mới bắt đầu cho ăn dần, bắt đầu là nước đường, tiếp đến là hồ đường rồi cháo để giảm sự tiết dịch tụy; bù nước và điện giải để đảm bảo thăng bằng kiềm toan, tùy theo điều kiện và nguyên nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định cho dùng các loại thuốc giảm tiết, kháng sinh cho phù hợp.

Chỉ tiến hành mổ cấp cứu khẩn cấp khi chẩn đoán không chắc chắn hoặc khi chẩn đoán viêm tụy cấp hoại tử nặng điều trị hồi sức tích cực không kết quả, viêm tụy cấp kết hợp có bệnh lý đường mật.

Sau 2 - 3 tuần, nếu có các biến chứng như chảy máu, rò tiêu hóa, áp-xe... cũng phải mổ sớm để giải quyết. Tùy theo thương tổn mà có thể chọn đường mổ, cách xử trí phẫu thuật phù hợp.

Lời khuyên của thầy thuốcỞ bệnh nhân có tiền sử sỏi hoặc giun chui đường mật hoặc sau bữa ăn thịnh soạn có sử dụng nhiều rượu mà xuất hiện đau bụng cấp, cần đến ngay cơ sở y tế nơi gần nhất để khám và điều trị hợp lý, kịp thời tránh các biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra. Cách tốt nhất với mỗi chúng ta cần giữ gìn vệ sinh an toàn trong ăn uống, định kỳ 6 tháng đến 1 năm tẩy giun 1 lần để tránh mắc ký sinh trùng đường ruột; ăn uống hợp lý, tránh việc sử dụng bia rượu quá nhiều để đảm bảo cho cơ thể luôn luôn được khỏe mạnh.

BS. Nguyễn Đằng